136-138 Vũ Phạm Hàm, Yên Hoà, Hà Nội

Phòng khám đa khoa Ykao - Phòng khám được đầu tư cơ sở vật chất khang trang, hiện đại đảm bảo hiệu quả điều trị luôn cao nhất, hoàn thành sứ mệnh chăm sóc sức khỏe cho người bệnh

Chuyên khoa Nội

Chuyên khoa Nội

Chuyên khoa Ngoại

Chuyên khoa Ngoại

Chuyên khoa Sản

Chuyên khoa Sản

Chuyên khoa Da liễu

Chuyên khoa Da liễu

Chuyên khoa Răng-Hàm-Mặt

Chuyên khoa Răng-Hàm-Mặt

Chuyên khoa Tai-Mũi-Họng

Chuyên khoa Tai-Mũi-Họng

Chuyên khoa Mắt

Chuyên khoa Mắt

Chuyên khoa Chẩn đoán hình ảnh

Chuyên khoa Chẩn đoán hình ảnh

Trung tâm Xét nghiệm (Labo)

Trung tâm Xét nghiệm (Labo)

Khám tư vấn chuyên sâu

Khám tư vấn chuyên sâu

Danh mục

Tư vấn

Đặt lịch

Đặt lịch khám

Danh mục sản phẩm

Quy trình hỗ trợ khám chữa bệnh

BƯỚC 1

Tìm hiểu thêm

BƯỚC 2

Tìm hiểu thêm

BƯỚC 3

Tìm hiểu thêm
Phòng khám đa khoa Ykao
"Tôi đã đến phòng khám YKao để khám và cấp giấy khám sức khoẻ. Tôi đã được nhân viên ở đây hướng dẫn chu đáo và các bác sĩ khám tận tình. Tôi rất hài lòng với dịch vụ ở đây"
Hoàng Văn Quân
Phòng khám đa khoa Ykao
"Công việc của tôi khá bận rộn, và tôi rất hài lòng khi sử dụng dịch vụ lấy máu xét nghiệm tại nhà của phòng khám Đa khoa Ykao. Các bạn có tay nghề tốt, rất thân thiện và nhiệt tình."
Dương Văn Việt
Phòng khám đa khoa Ykao
"Tôi đã bị viêm lộ tuyến cổ tử cung, đã được bác sĩ Phòng khám Đa khoa Ykao tư vấn và chữa trị, hiện tôi đã có bé thứ 2 được gần 2 tuổi..."
Nguyễn Hoàng Linh
Hoàng Văn Quân
Dương Văn Việt
Nguyễn Hoàng Linh

Hoạt động khám sức khỏe khác

PHÒNG KHÁM ĐA KHOA YKAO
|
Ngày 03/12/2025

Xem thêm

Phòng ngừa viêm nướu ở trẻ em

PHÒNG KHÁM ĐA KHOA YKAO
|
Ngày 03/12/2025

Viêm nướu răng là gì?  Bệnh nướu răng diễn tiến qua nhiều giai đoạn khác nhau, nguyên nhân chính là từ độc tố do vi khuẩn trong cao răng tiết ra, gây kích thích nướu và vi khuẩn xâm chiếm ở xung quanh kẽ răng làm nướu sưng đỏ. Nguyên nhân nào làm trẻ bị bệnh viêm nướu?  Nguyên nhân trực tiếp của bệnh viêm nướu là mảng bám hình thành trên răng. Vi khuẩn mảng bám tồn tại càng lâu thì mức độ nghiêm trọng mà chúng có thể gây ra càng lớn. Nếu mảng bám không được làm sạch đúng mức bằng cách đánh răng và dùng chỉ nha khoa hàng ngày, nó sẽ tạo ra độc tố kích thích mô nướu gây viêm nướu. Như vậy, nguyên nhân chủ yếu gây ra viêm nướu răng ở trẻ là do trẻ vệ sinh răng miệng không sạch, dẫn đến tình trạng tích tụ chất bẩn và vi khuẩn quanh răng, nhất là ở khe nướu.   Các bậc cha mẹ có thể nhận biết trẻ bị viêm nướu bằng cách kiểm tra bàn chải đánh răng.   Làm sao để sớm nhận biết trẻ bị viêm nướu? Có thể dựa vào các dấu hiệu sau: Sưng nhẹ ở viền và gai nướu là biểu hiện của viêm nướu ở giai đoạn đầu. Nướu của trẻ bình thường màu hồng, khi bị viêm nướu, tùy theo mức độ nhẹ thì nướu trẻ sẽ có dấu hiệu bị ửng đỏ, sưng phồng; nặng hơn, nướu của trẻ có dấu hiệu bị sưng đỏ và tấy. Nướu sẽ không còn dai chắc mà sẽ trở nên mềm và bở. Ở mức cao hơn có thể thấy trẻ dễ bị chảy máu nướu răng khi chạm phải hay chảy máu tự nhiên. Nguyên nhân là do các vi khuẩn gây viêm sản sinh ra độc tố khiến nướu trở nên nhạy cảm, dễ chảy máu. Khi bị viêm nướu, trẻ đánh răng rất dễ bị chảy máu răng và nướu của trẻ có thể đau khi đánh răng. Có những trường hợp có trẻ bị sưng nướu răng rất đau, kèm theo lưỡi, môi và miệng bị lở, gây rát. Vì nướu bị đau nên nhiều trẻ không chịu đánh răng thường xuyên. Ở các trẻ nhỏ, một số bậc cha mẹ khi chùi răng cho trẻ, thấy trẻ đau, khóc không chịu cho chùi răng nên các bậc cha mẹ không dám vệ sinh răng miệng cho trẻ nữa, làm cho tình trạng viêm nướu tiếp tục nặng hơn. Các bậc cha mẹ có thể nhận biết trẻ bị viêm nướu bằng cách kiểm tra bàn chải đánh răng, của trẻ sau khi trẻ đánh răng để xem, nếu thấy một “chút màu hồng” của các sợi lông bàn chải đánh răng đó là máu còn tích tụ lại trong khi đánh răng. Miệng trẻ có mùi hôi, hơi thở của trẻ có mùi khó chịu khi có mủ giữa răng và nướu răng. Ngoài ra, trẻ bị viêm nướu thường có biểu hiện ăn ít, bỏ ăn do đau nướu. Các bậc cha mẹ cần để ý kiểm tra răng miệng của trẻ. Viêm nướu răng có để lại hậu quả gì cho trẻ?  Vệ sinh răng miệng kém dẫn đến tích tụ nhiều mảng bám trên bề mặt răng gây ra phản ứng viêm, có biểu hiện khu trú hay lan rộng, đỏ và sưng ở nướu. Ảnh hưởng sớm nhất đến trẻ dễ dàng nhận thấy đó là hơi thở của trẻ có mùi hôi. Viêm nướu nhẹ là nướu trở nên đỏ và lan rộng, nhưng nếu không phát hiện và điều trị kịp thời, bệnh viêm nướu trở thành nguy hại vì bệnh tiến triển thầm lặng. Ở giai đoạn đầu của bệnh, nướu răng dễ bị chảy máu, sưng đỏ khi đánh răng hoặc chà mạnh. Giai đoạn sau đó, vi khuẩn sẽ tấn công và bám sâu hơn xuống chân răng đồng thời làm nướu bị tách rời chân răng. Do nướu răng bị tổn thương trầm trọng, mủ xuất hiện quanh cổ răng dẫn đến tình trạng tiêu xương hàm, làm tổn thương toàn bộ các tổ chức xung quanh răng, dây chằng và xương ổ răng bị phá hủy. Khi viêm nướu không điều trị sớm thì mô nâng đỡ răng sẽ bị phá hủy làm nướu bị tụt, xương ổ răng bị tiêu làm răng lung lay. Răng sẽ lung lay ở nhiều mức độ nặng hay nhẹ, cuối cùng dẫn đến tình trạng rụng răng. Cần làm gì để giúp trẻ  Điều trị bệnh viêm nướu sẽ rất hiệu quả nếu bệnh được phát hiện đúng lúc ở giai đoạn khởi phát. Bệnh viêm nướu là giai đoạn đầu của bệnh nướu răng và dễ dàng điều trị nhất. Cần nhanh chóng đưa trẻ đến khám BS. Răng hàm mặt (RHM) ở các bệnh viện Nhi để thăm khám và điều trị bệnh viêm nướu cho trẻ. Khi trẻ bị viêm nướu, các bậc cha mẹ không nên tự ý mua thuốc điều trị, việc tự ý điều trị thường không trị được tận gốc bệnh mà khiến bệnh âm ỉ kéo dài và việc điều trị sau này sẽ khó khăn hơn. Tùy vào tình hình bệnh, BS. RHM sẽ áp dụng điều trị tại chỗ bằng các loại dung dịch sát khuẩn vùng miệng hay có thể phối hợp thêm thuốc kháng sinh uống, vitamin PP và vitamin C. Cho trẻ ăn bưởi cũng là một biện pháp giúp trẻ ngừa bệnh viêm nướu. Ăn bưởi sẽ giúp tăng lượng vitamin C trong máu, tăng sức đề kháng để chống lại các vi khuẩn gây viêm nướu. Khi bị viêm nướu, trẻ đánh răng rất dễ bị chảy máu. Vì vậy, rất nhiều bậc cha mẹ khi chùi răng cho trẻ, thấy chảy máu và sợ con đau nên đã không dám vệ sinh răng miệng cho trẻ nữa hoặc ở các trẻ lớn khi đánh răng thấy vùng nào đó chảy máu nhiều thường trẻ sợ không dám đánh mạnh, chính vì điều này khiến tình trạng viêm nướu lại càng nặng thêm. Do đó, nướu răng của trẻ cần được chùi sạch sẽ nhiều lần trong ngày bằng bàn chải đánh răng mềm. Đối với trẻ dưới 3 tuổi, nên dùng gạc quấn vào ngón tay trỏ của mình nhúng vào nước chín để nguội, chà răng và nướu của bé. Làm thế nào để phòng ngừa viêm nướu răng ở trẻ em?  Yếu tố quyết định đến sự lành mạnh của răng và nướu là việc lấy đi mảng bám răng hàng ngày. Để phòng ngừa viêm nướu cho trẻ, quan trọng nhất là vệ sinh răng miệng kỹ lưỡng, cần chắc chắn rằng những mảng bám hoàn toàn bị loại bỏ mỗi ngày bằng cách đánh răng.  Tốt nhất nên chải răng cho trẻ ngay sau khi ăn, trước khi đi ngủ và sau khi thức dậy. Cha mẹ cần kiểm tra xem trẻ đánh răng đã thật sạch thức ăn dính trên răng và các mảng bám chưa. Điều này sẽ giúp trẻ phòng ngừa cao răng và sự tích tụ mảng bám trên răng. Một điều cần nhớ là các bậc cha mẹ cần phát hiện các triệu chứng viêm nướu răng sớm và nhanh chóng đưa trẻ đến BS. RHM điều trị để giúp bệnh chóng lành. Cần đưa trẻ đi khám răng định kỳ 3 - 6 tháng/lần để kiểm tra các vấn đề răng miệng và yêu cầu kiểm tra nướu răng cho trẻ mỗi khi đi khám răng định kỳ và lấy cao răng thường xuyên theo chỉ định của BS. Khi bệnh được phát hiện sớm thì việc chữa trị dễ dàng, ít tốn kém và khả năng chữa khỏi nhanh chóng hơn. ThS.BS. NGUYỄN QUỐC DŨNG(Theo Báo Sức khỏe và Đời sống)  

Xem thêm

Dấu hiệu của bệnh loãng xương

PHÒNG KHÁM ĐA KHOA YKAO
|
Ngày 03/12/2025

Biểu hiện của bệnh loãng xương Bệnh này được ví như những tên trộm vặt, mỗi ngày một chút, chúng lấy dần các khoáng chất của bộ xương. Lúc đầu người bệnh không cảm thấy khó chịu vì bệnh diễn biến thầm lặng, không có dấu hiệu nào rõ ràng, có chăng chỉ là một vài triệu chứng đau, nhức, mỏi không cố định, có khi rất mơ hồ, vu vơ ở cột sống lưng, ở dọc các chi, ở các đầu xương…Càng về sau, khi khối lượng khoáng chất bị mất ngày càng nhiều, các triệu chứng đau nhức nêu trên sẽ rõ ràng dần lên, tập trung nhiều hơn ở các vùng xương chịu lực của cơ thể như: hông, thắt lưng, khớp gối. Loãng xương rất thường đi kèm với bệnh thoái hóa khớp, cũng là bệnh thường gặp ở người có tuổi. Tình trạng loãng xương sẽ làm cho quá trình thoái hóa nặng thêm, và quá trình này cũng làm bệnh loãng xương nặng nề thêm. Triệu chứng thường gặp ở bệnh loãng xương 1. Đau xương – Đau nhức các đầu xương. – Đau nhức, mỏi dọc các xương dài. – Đau nhức như châm trích toàn thân. – Đau tăng về đêm, nghỉ ngơi không hết. 2. Đau cột sống, đau như thắt ngang cột sống hoặc lan sang một hoặc hai bên mạn sườn do kích thước các rễ thần kinh liên sườn. Đau cột sống thường kèm theo co cứng các cơ dọc cột sống gây đau, giật cơ khi thay đổi tư thế. Lúc nằm yên, người bệnh thường thấy dễ chịu hơn. 3. Gù vẹo cột sống, giảm chiều cao so với lúc trẻ (do các đốt sống bị lún, xẹp hoặc bị gãy lún). 4. Các triệu trứng toàn thân thường gặp là luôn có cảm giác lạnh hoặc ớn lạnh, hay bị chuột rút (vọp bẻ), thường ra mồ hôi. 5. Thường có kèm theo các bệnh của người có tuổi như: béo bệu, cao huyết áp, bệnh mạch vành, tiểu đường, thoái hóa khớp… Khi đã có các triệu chứng lâm sàng rõ ràng nêu trên, khối lượng xương của cơ thể thường đã giảm 30%. Lúc này trên phim X-quang thường có thể thấy rõ hiện tượng loãng xương như : xương tăng thấu quang. Vỏ xương bị mỏng đi Các đốt sống bị biến dạng: lún xẹp hay gãy lún.

Xem thêm

Thuốc chữa bệnh đau nửa đầu

PHÒNG KHÁM ĐA KHOA YKAO
|
Ngày 03/12/2025

Đau nửa đầu (Migraine) là bệnh phổ biến, hay gặp ở lứa tuổi trưởng thành, nữ bị nhiều gấp 3 lần nam, bệnh có tính chất gia đình, đau thường biểu hiện khu trú ở một bên đầu, cơn xảy ra bất kỳ khiến bệnh nhân luôn trong tình trạng lo lắng, giảm sút nghiêm trọng chất lượng cuộc sống.  Khi bị cơn đau nửa đầu hành hạ, người bệnh cần dùng ngay thuốc nào để cắt cơn? Thuốc giảm đau nên được sử dụng ngay khi mới xuất hiện các dấu hiệu hoặc triệu chứng Migraine. Các thuốc giảm đau thuộc nhóm không steroid (NSAIDs) như ibuprofen, aspirin đường uống có tác dụng giảm cơn đau mức độ nhẹ, nên dùng phối hợp cùng thuốc chống nôn như metoclopramide (10mg) hay domperidone (10mg).     Lưu ý dùng thuốc giảm đau không steroid kéo dài có thể gây loét dạ dày - tá tràng, chảy máu tiêu hóa. Mặt khác, không dùng aspirin cho trẻ em dưới 16 tuổi, không dùng metoclopramide cho trẻ nhỏ.   Ngoài ra, để hạn chế các cơn đau nửa đầu, người bệnh cần tuân thủ một liệu trình điều trị đầy đủ của bác sĩ chuyên khoa thần kinh. Đồng thời cần chú ý đến chế độ ăn, hạn chế một số loại thức ăn, đồ uống có chứa tyramin (có thể là yếu tố khởi phát cơn Migraine) như pho-mát, sôcôla, rượu vang chát đỏ, tránh các chất phụ gia thực phẩm như mỳ chính, đường hóa học.       Theo BS.Nguyễn Thế Anh (suckhoedoisong.vn)

Xem thêm

Đái tháo đường và tai biến mạch máu não

PHÒNG KHÁM ĐA KHOA YKAO
|
Ngày 03/12/2025

Đái tháo đường và tai biến mạch máu não  Tăng huyết áp là biểu hiện thường gặp ở bệnh nhân ĐTĐ. Tăng huyết áp kinh diễn là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tai biến mạch máu não (TBMMN). Tỉ lệ tăng huyết áp ở bệnh nhân ĐTĐ cao gấp 1,5 - 3 lần so với nhóm không bị. Đối với ĐTĐ týp 1, tăng huyết áp xảy ra sau nhiều năm. Đối với bệnh nhân ĐTĐ týp 2, tăng huyết áp là vấn đề thường gặp, sẽ nghiêm trọng hơn về huyết áp nếu người bệnh có biến chứng ở thận.   ĐTĐ làm cho quá trình xơ vữa động mạch diễn ra nhanh hơn ở người bình thường, do vậy hiện tượng những cục huyết khối hình thành trong lòng động mạch hay các mảng xơ vữa làm bít tắc lòng động mạch là nguyên nhân làm cho máu, oxy không đến nuôi dưỡng được vùng mạch máu đó cung cấp. Đây không chỉ là lý do dẫn đến tắc mạch máu não, phình vỡ mạch máu não mà còn gây ra đau thắt ngực và nhồi máu cơ tim. Hầu hết các bệnh nhân ĐTĐ thường bị nhiễm mỡ máu có lượng cholesterol trong máu vượt quá mức cho phép, nhất là cholesterol có hại làm cho quá trình xơ vữa động mạch càng trở nên trầm trọng hơn, nguy cơ TBMMN càng cao. Điều quan trọng là các yếu tố này thường xuất hiện đồng thời ở bệnh nhân ĐTĐ, do vậy nguy cơ tai biến là rất có thể nếu không được kiểm soát và điều trị bệnh đúng đắn.   Xác định bệnh   Xác định ĐTĐ dựa trên các yếu tố nguy cơ như thừa cân, béo phì, có cuộc sống tĩnh tại, ít vận động, hút thuốc lá, gia đình có người bị ĐTĐ, phụ nữ sinh con lớn hơn 4kg… Những đối tượng có nguy cơ cần phải có kiểm tra đường huyết để xác định sớm bệnh. Khi đã có những biểu hiện bệnh như sút cân nhanh chóng, khát nước nhiều, ăn nhiều, tiểu nhiều, mệt mỏi, rụng tóc, rối loạn kinh nguyệt, chóng mặt, mất ngủ… cần phải đi khám bệnh ngay. Tại các cơ sở y tế, người ta sẽ đo nồng độ glucose huyết tương ngẫu nhiên (200mg/dl), hoặc nồng độ glucose huyết tương lúc đói (126mg/dl). Kết quả này được khẳng định lại bằng xét nghiệm lần thứ 2. Xác định TBMMN dựa trên những biểu hiện lâm sàng của bệnh và trên hình ảnh chụp CT-Scan não có tổn thương hoặc nhồi máu ổ khuyết. Cũng cần phân biệt bệnh nhân TBMMN não do các nguyên nhân khác như u não, bệnh van tim, bệnh máu, do dùng thuốc chống đông, phẫu thuật tạo hình, dị dạng mạch máu não ...    Kiểm soát đái tháo đường  Tất cả các bệnh nhân ĐTĐ đều phải được theo dõi chặt chẽ đường huyết, những chỉ số đông máu, chỉ số cholesterol, triglycerid, huyết áp. Để không những chỉ số này không bị tăng vọt hay giảm quá mức người bệnh cần tuân thủ nguyên tắc điều trị của bác sĩ. Nhất thiết các bệnh nhân này cần ăn nhạt, hạn chế ăn đồ ngọt, ăn ít mỡ, không dùng phủ tạng động vật, không hút thuốc lá, hạn chế tối đa sử dụng các chất kích thích khác như rượu bia, cà phê… Nên có chế độ dinh dưỡng giàu vitamin và chất xơ, đặc biệt là ăn nhiều rau xanh, trái cây tươi. Bên cạnh đó cần thường xuyên tập luyện thể thao như đi bộ, kiểm soát cân nặng. Kiểm soát tăng huyết áp chống phù não có thể bằng glycerol (không được sử dụng manital), uống aspegic 50mg mỗi ngày. Tuy nhiên, sử dụng các thuốc này phải do thầy thuốc chuyên khoa chỉ định. Các trường hợp có biểu hiện TBMMN cần phải đi cấp cứu kịp thời, hạn chế tử vong và tàn phế cho người bệnh. GS.TS. TRẦN ĐỨC THỌ (Theo Báo Sức khỏe và Đời sống)

Xem thêm

Biến chứng tiềm ẩn khi mang thai

PHÒNG KHÁM ĐA KHOA YKAO
|
Ngày 03/12/2025

Biến chứng tiềm ẩn khi mang thai Phụ nữ khi mang thai phải đối mặt với rất nhiều nguy hiểm. Một số vấn đề và bệnh nghiêm trọng có thể nảy sinh trong khi mang thai và sinh nở. Những biến chứng phổ biến là thai ngoài tử cung, nhiễm trùng do virus herpes, bệnh sởi (rubella), bệnh toxoplasma, tiền sản giật và sản giật, sảy thai và sinh non. Người phụ nữ cũng có thể phải chịu bất kỳ các vấn đề khác ngoài những vấn đề trên khi mang thai, chẳng hạn như buồn nôn vào buổi sáng, bệnh trĩ và chứng sạm da. Ảnh minh họa Thai ngoài tử cung Nếu trứng được thụ tinh làm tổ bên ngoài tử cung thì sẽ gây nên chứng mang thai lạc vị, loại mang thai lạc vị phổ biến nhất là mang thai trong vòi trứng. Trừ khi được phát hiện và lấy ra sớm, còn không thì phôi thai sẽ phát triển cho đến khi vòi bị vỡ, gây ra hiện tượng xuất huyết, khiến phụ nữ vô cùng đau đớn và một số trường hợp có thể dẫn đến tử vong. Mang thai lạc vị có thể tự sảy thai, mặt khác cần phải tiến hành phẫu thuật để lấy thai ra ngay sau khi phát hiện. Hầu hết phụ nữ sau khi mang thai lạc vị vân có thể có con lại bình thường. Bệnh rubella Phơi nhiễm virus rubella, hay bệnh sởi Đức, trong thời gian mang thai gây ra các nguy cơ trầm trọng đối với sự phát triển của thai nhi, đặc biệt là ở 3 tháng đầu. Sự thiếu hụt bẩm sinh gây ra bởi bệnh rubella gồm: phát triển trước khi sinh chậm, các dị thường ở nhiễm săc thể mù, điếc, tổn thương não, các tổn thương ở tim. Tiêm chủng khi còn bé sẽ giúp phòng ngừa bệnh rubella và việc tiêm chủng này có tác dụng đến suôt đời. Bất kỳ phụ nữ nào có dự định mang thai nhưng chưa từng bị rubella hay chưa tiêm phòng cần tiêm ngừa trước khi có thai. Nhiễm trùng do virus herpes Nhiễm trùng do virus herpes gây ảnh hưởng chủ yếu đến thai nhi hơn là người mẹ. Nó có thể lây truyền qua đường tình dục và lây từ mẹ sang con. Những người lớn bị nhiễm trùng do virus herpes thường không thấy có triệu chứng gì, trong khi đó thai nhi bị lây nhiễm từ mẹ có nguy cơ bị dị dạng cao, chẳng hạn như chậm phát triển, động kinh, liệt não, mù hoặc điếc. Hiện nay, chưa có cách chữa trị hay vaccine phòng chống nhiễm trùng do virus herpes. Tiền sản giật và sản giật Phụ nữ bị tiền sản giật hay “nhiễm độc huyết” sẽ bị tăng huyết áp, giữ nước mạnh và phù khi mang thai. Các triệu chứng của bệnh này thường từ mức độ nhẹ (phù tư chi) đến nặng (co giật và tử vong). Nhiễm độc huyết nặng được gọi là sản giật. Nguyên nhân chính xác gây ra nhiễm độc huyết hiện vẫn chưa được biêt, tuy nhiên dinh dưỡng không đầy đủ có thể là một phần nguyên nhân. Sinh non Trẻ sinh non chiếm khoảng từ 7- 10% trong số những trẻ em được sinh ra ở Mỹ, trẻ sinh non nặng dưới 2,5kg và được sinh ra khi thai ít hơn 36 tuần tuổi. Mặc dù những nguyên nhân gây ra việc sinh non vẫn chưa được biết, nhưng sinh non có thể liên quan đến chế độ ăn uống thiếu thốn, sử dụng rượu và thuốc khi mang thai, hút thuốc lá thiếu sư chăm sóc trước khi sinh hay có tiền sư sảy thai trước đó. Như đã biết, trẻ sơ sinh càng nhẹ cân càng ít có cơ hôi sống. Trẻ sinh non thường gặp các vấn đề xuất huyết, gặp khó khăn khi thở, bú sữa và tiêu hóa. Những vân đề này thường mất đi khi đứa trẻ tăng cân. Sảy thai Sảy thai là sự sảy một cách tự phát của thai nhi không thể sống được (thai không co khả năng sống ở ngoài tử cung) ít hơn 20 tuần tuổi. Vì người phụ nữ có thê nhầm sảy thai với có kinh trước khi biết là mình có thai nên việc xác định số ca sảy thai hàng năm là một việc khó khăn. Tuy nhiên, theo ước tính có khoảng 20% phụ nữ mang thai ở Mỹ bị sảy thai, đa số những trường hợp sảy thai này xuất hiện ở 3 tháng đầu của thai kỳ. Những dị thường ở nhiễm săc thể và mang thai khi tuổi đã cao (trên 35 tuổi) là những nguyên nhân chính dẫn đến việc sảy thai. Kiểm tra để phát hiện những bất thường khi mang thai Một số phương pháp chẩn đoán có thể kiểm tra xem bào thai có khả năng bị các dị tật hay khiếm khuyết nào không. Một trong số những phương pháp phổ biến nhất được sử dụng là chẩn đoán bằng siêu âm. Chẩn đoán bằng siêu âm liên quan đến việc chụp hình chuyển động của bào thai và đặc biệt hữu dụng trong việc chẩn đoán các rối loạn trước khi sinh, theo dõi nhịp tim của thai nhi và biết trước được giới tính của thai.

Xem thêm
Xem thêm
Hotline Hotline Email Đặt lịch Đặt lịch khám Map